Thiếu sữa sau khi sinh

Nên cảnh giác với các triệu chứng
Sau khi sinh bài tiết sữa ít thậm chí không có.
Vú nhão, mềm, không căng, sữa loãng.
Vú căng, cứng gây đau, sữa đặc.
Khi sữa bị đẩy ra bị tắc, ứ đọng làm cho vú sưng đỏ, đau rát.
Những triệu chứng biểu hiện của bệnh
Triệu chứng 1
Sau khi sinh, bài tiết sữa ít thậm chí không có, không thể đáp ứng đủ nhu cầu của đứa trẻ. Vú nhão, mềm, không căng, sữa loãng hoặc vú căng, cứng, đau, sữa đặc. Đó là biểu hiện lâm sàng của chứng thiếu sữa sau khi sinh. Phát sinh nhiều sau khi sinh bé khoảng 2 – 3 ngày cho đến nửa tháng. Bài tiết sữa ngoài tương quan mật thiết với sự phát dục của tuyến vú, nó còn dựa vào rất lớn đối với sự kích thích mút đầu vú của đứa trẻ khi người mẹ cho bú. Ngoài ra, còn tương quan mật thiết với dinh dưỡng, giấc ngủ, sức khỏe và tâm trạng sau khi sinh.
Triệu chứng 2
Khi sữa được đẩy ra bị tắc, ứ đọng làm cho vú sưng đỏ, đau rát, kèm theo hiện tượng sốt. Mát xa ngực có thể giúp sữa được đẩy ra bên ngoài. Đó có khả năng là bệnh viêm tuyến vú cấp tính, nên chú ý phân biệt với chứng thiếu sữa sau khi sinh.
Những điều bạn có thể làm
Cho con bú vào đúng thời gian quy định: Bình thường trẻ sau 6 – 12 tiếng sau khi sinh ra là có thể bắt đầu bú, sau đó cứ cách 3 tiếng cho bú 1 lần, nên lựa chọn tư thế cho trẻ bú chính xác. Những đứa trẻ sinh sớm có thể đẩy lùi đến khoảng 16 – 24 tiếng. Mỗi lần cho con bú kéo dài 15 – 20 phút là được.
Đừng nên lao động quá sức: Trước khi sinh không nên lao động quá sức, sau khi sinh cũng không nên làm lụng vất vả sớm.
Cấm uống một số loại thuốc: Như atropine, eritromixin, têtraxyclin, thuốc chứa axit salixylic, thuốc chứa bromua, phenobacbital.
Chú ý ăn uống: Phải chú ý cung cấp đầy đủ dinh dưỡng như hàm lượng canxi cao có trong cá, gan, canh xương, sữa bò, sữa dê… Không được ăn những đồ ăn có tính kích thích quá lớn như các loại ngũ vị hương, thức ăn rán, đồ ăn nhanh.
Tránh để lõm đầu vú: Trước khi sinh phải kịp thời uốn nắn, điều chỉnh vấn đề đầu vú bị lõm nên dùng khăn bông ướt lau sạch đầu vú và mát xa đầu ti và ngực.
Nghỉ ngơi đầy đủ: Nên tăng cường dinh dưỡng cho phụ sản, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, đặc biệt nên tạo tâm trạng thoải mái cho giấc ngủ được ngon.
Mắt lác
Nên cảnh giác với các triệu chứng
Mắt nhìn nghiêng hướng vào trong.
Mắt nhìn nghiêng hướng ra ngoài.
Mắt nhìn nghiêng hướng lên hoặc hướng xuống.
Góc độ nhìn nghiêng của mắt bình thường rất lớn, có thể kèm theo viễn thị ở mức độ trung bình cao.
Những triệu chứng biểu hiện của bệnh
Triệu chứng 1
Mắt nhìn nghiêng hướng vào trong, gọi là lác mắt trong. Xét về lâm sàng có thể phân thành lác mắt do bẩm sinh hoặc lác mắt về sau này. Khi sinh ra đã bị lác mắt gọi là lác mắt trong bẩm sinh và góc độ nhìn nghiêng của mắt bình thường rất lớn. Bệnh lác mắt trong về sau vừa mang tính điều tiết vừa không mang tính điều tiết, lác mắt trong mang tín điều tiết thường phát sinh vào khoảng 2 – 3 tuổi, có thể kèm theo viễn thị ở mức độ trung bình và cao.
Triệu chứng 2
Mắt nhìn nghiêng hướng ra ngoài, bình thường có thể phân thành lác mắt ngoài mang tính ngắt quãng hoặc lác mắt ngoài mang tính liên tục. Lác mắt ngoài mang tính ngắt quãng là biểu hiện của năng lực hình dung tưởng tượng tương đối tốt, do năng lực tư duy tưởng tượng duy trì liên tục ở một vị trí bình thường. Nhưng, lác mắt ngoài mang tính ngắt quãng thường có thể phát triển thành lác mắt ngoài mang tính liên tục, còn thỉnh thoảng xuất hiện tình trạng lác mắt ngoài trở thành lác mắt ngoài liên tục cả đời.
Triệu chứng 3
Mắt nhìn nghiêng hướng lên trên hoặc hướng xuống, hiện tượng này tương đối ít gặp. Lúc mắt lên xuống thường là do đầu bị nghiêng lệch.
Những điều bạn có thể làm
Đến bác sĩ phẫu thuật: Tốt nhất là bạn nên đến bệnh viện để các bác sĩ làm phẫu thuật chỉnh hình ở mắt, làm giảm độ lác ở mức tối thiểu.
Phối hợp đeo kính: Không phải tất cả những người bị lác mắt đều phải làm phẫu thuật chữa trị. Nếu là lác mắt ngoài mang tính điều tiết chỉ cần đeo loại kính viễn thị phù hợp hoặc đeo kính râm là có thể thuyên giảm.