Thiên lý

Nhân dân ta thường nấu canh hoa và lá thiên lý non để ăn cho mát và bổ. Thiên lý (còn có tên khác là hoa lý, dạ lai hương) là loại dây leo, dài hàng mét, thân non có lông, lá mọc đối, hoa màu vàng lục, thơm. Lá và hoa thiên lý được thu hái vào mùa hạ, dùng tươi. Rễ thu hái vào mùa thu, phơi hoặc sấy khô. Cây thiên lý được dùng làm thuốc trong những trường hợp sau:
Hằng ngày ăn canh nấu lá non hoặc hoa thiên lý với liều 20-30g để chữa giun kim.
Canh hoa thiên lý nấu với rau khủ khởi và lá non mướp đắng có tác dụng mát, bổ và an thần, giúp dễ ngủ, ngủ ngon, bớt mệt mỏi, chữa sốt nhẹ, lao lực.
Rễ thiên lý (10-20g) thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống hết 1 lần, uống hằng ngày. Thuốc có tác dụng chữa đái buốt, có máu hoặc cặn trắng.
Dựa vào kinh nghiệm dân gian dùng lá thiên lý chữa lòi dom: Lá non và lá bánh tẻ 100g rửa sạch, giã với 5g muối, thêm nước, vắt lấy nước cốt. Tẩm nước này vào bông gạc rồi đặt vào dom (đã được rửa sạch bằng nước muối), băng lại. Làm mỗi ngày một lần, khoảng 3-5 ngày là khỏi. Nên đắp thuốc vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Cẩm chướng gấm
Cẩm chướng gấm còn có tên khác là thạch trúc, cẩm chướng hoa kép, lạc dương hoa.
Cẩm chướng gấm, nguồn gốc Trung Quốc, nhập trồng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cây được trồng ở nhiều nơi trên thế giới để làm cây cảnh, với hoa thơm mát, màu sắc đẹp, trồng ngoài vườn hay trong chậu.
Cây hoa cẩm chướng gấm, giống mọc 2 năm, lá hẹp màu xanh lam. Hoa mọc ở đầu cành. Đầu cánh hoa xẻ răng cưa, hoa có nhiều màu như trắng, hồng, đỏ, tím hoặc lốm đốm, đơn hoặc 1 kép. Ở xứ lạnh, cây ra hoa tháng 4-6; quả tháng 6.
Ở Việt Nam, trồng cẩm chướng gấm, gieo hạt 20 ngày, nhổ cây đa vào vườn ươm 25-30 ngày, rồi bứng đi trồng ở vườn hay ở chậu. Từ khi hạt nảy mầm đến khi cây ra hoa nhiều là 110-200 ngày.
Tác dụng:
Lợi niệu
Đối với đường ruột
Đối với hệ tim mạch
Theo Đông y:
Tính vị, quy kinh: Khổ, hàn; vào các kinh tâm, thận, tiểu đường, bàng quang.
Công dụng: Thanh nhiệt lợi thủy, tán huyết thông kinh.
Điều trị: Tiểu tiện không thông, lâm bệnh thủy thũng, kinh bế, ung thũng, mục xích, nhọt độc mạn tính.
Cách dùng, liều lượng:
Uống 6-12g, dạng nước sắc hoặc hoàn tán.
Dùng ngoài: tán bột mịn, bôi, đắp.
Dùng điều trị:
Nhiễm khuẩn đường sinh dục tiết niệu
Tiện huyết
Vô kinh
Liều dùng 5-10g.