Thanh hao hoa vàng

Thanh hao hoa vàng còn được gọi là thanh cao hoa vàng, thanh hao, thanh cao, thảo cao, ngải si, ngải hôi, ngải đắng…
Y học Trung Quốc đã biết dùng cây Thanh hao hoa vàng để trị sốt rét từ đời Hán. Trong tập đơn thuốc chữa 52 loại bệnh viết vào năm 168 trước Công nguyên đã ghi bài thuốc chữa sốt rét bằng Thanh hao (dùng một nắm to lá Thanh hao ngâm trong 1 bát nước rồi sắc lấy nước uống).
Năm 1972 các nhà khoa học Trung Quốc đã chiết được Artemisinin trong cây Thanh hao hoa vàng và thử nghiệm dùng Artemisinin để chữa sốt rét cho 2.353 người đạt kết quả tốt.
Ở Việt Nam từ thế kỷ XIV Tuệ Tĩnh và thế kỷ XVIII Hải Thượng Lãn Ông đã dùng Thanh hao hoa vàng để chữa sốt rét.
Năm 1989 Đinh Huỳnh Kiệt và cộng sự công bố kết quả phân tích thành phần hóa học của thanh hao hoa vàng mọc hoang và chiết xuất Artemisinin để chữa sốt rét cho bộ đội.
Cũng từ năm 1989 một phong trào nghiên cứu trồng và chiết xuất Artemisinin từ thanh hao hoa vàng bùng phát:
Viện Dược liệu – Viện Khoa học Việt Nam. Viện Y học quân sự đều nghiên cứu phương pháp và máy móc chế tạo trong nước để chiết xuất Artemisinin từ Thanh hao hoa vàng. Bán tổng hợp Artesunat Artemether…
Công ty Dược liệu TW I nghiên cứu nhân giống A annua L và phát triển trồng đại trà cây Thanh hao hoa vàng ở nhiều tỉnh miền Bắc từ Cao Bằng đến Nghệ An và chiết xuất Artemisinin ở quy mô công nghiệp, sản xuất thuốc Artemisinin chống sốt rét cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Đặc điểm thực vật:
Cây thuộc thảo, gốc hóa gỗ, sống lâu năm. Mọc hoang thường cao từ 1,5-2m. cây được trồng chăm bón tốt cao từ 3-4m. Toàn thân có mùi thơm nhẹ. Lá mọc cách, phiến lá xẻ lông chim 2 lần, thành những dải hẹp, có lông mềm bao phủ. Lá già vàng rồi chết khô, không rụng vì cuống lá rất dai. Cụm hoa hợp thành 1 chùy kép. Mỗi cành nhỏ có 3-7 cụm hoa. Mỗi cụm hoa có 25-35 hoa, trong đó có 20-25 hoa lưỡng tính ở giữa. Hoa cái có 5-8 hoa xung quanh. Kích thước hoa rất nhỏ, vỏ có rãnh dọc có các tuyến tinh dầu (1 gam hạt khô có 20-22.000 hạt).
Thanh hao hoa vàng là cây ưa ẩm, ưa sáng, chịu hạn nhưng kém chịu úng ngập. Phát triển tốt trên đất từ cát pha đến đất thịt nhẹ. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.400-1.600mm. Nhiệt độ không khí thấp nhất không dưới 100C, cao nhất không quá 400C. Chu kỳ sinh trưởng từ khi nảy mầm đến khi hạt chín từ 240-300 ngày (cây gieo hạt tháng giêng, hai ở miền Bắc và miền Trung).