Ngọc lan hoa trắng

Hoa có 15-20 cánh, nhọn đầu. Quả nhiều; mọc tụ tập lại, thành cụm, dài 7-15cm; hạt màu đỏ.
Tác dụng: Ushinsunin có tác dụng kháng khuẩn.
Theo đông y:
Tính vị: Khổ, lương.
Công dụng: Khu phong thấp; lợi yết hầu.
Ngọc lan hoa trắng
Ngọc lan hoa trắng còn có tên gọi khác là bạch lan, bạch ngọc lan. Cây nguồn gốc Châu Á ( ́Ấn Độ, Trung Quốc), được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia. Ở Việt Nam cây thường được dùng làm cảnh, lấy hoa thơm. Có thể chiết xuất được tinh dầu quý. Gỗ lõi màu nâu dùng tiện đỗ mộc; phần gỗ mềm dùng làm khắc con dấu và đóng đồ dùng thông thường. Ngọc lan trồng bằng giâm cành hoặc bằng cây con.
Ngọc lan hoa trắng cây gỗ to thường xanh, cao tới 20m. Vỏ thân màu xám, lá mọc so le, phiến nguyên hình trái xoan dài. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, đều, lưỡng tính. Bao hoa gồm nhiều bản hình thuôn dài, đầu hơi nhọn, không phân hóa thành dài và tràng, xếp theo đường xoắn ốc, màu trắng. Quả gần hình cầu; hạt hình trứng, màu xám. Mùa hoa tháng 4 – 6.
Tác dụng:
Ngừng ho, trừ đờm, bình suyễn.
Theo đông y:
Tính vị, quy kinh: Khổ, tân, ôn.
Công dụng: Ngừng ho (chỉ khái), hóa trọc.
Chủ trị: Viêm phế quản mạn tính, viêm tuyến tiền liệt; phụ nữ bị bệnh bạch đới.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-20g dạng thuốc nước sắc.
Hoa mộc
Là cây nhỏ, cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn thành chùm ngắn, hoa màu vàng thơm, đài 4 răng, tràng 4 cánh dày hơi liền nhau ở gốc, nhị 2 đối nhau, bầu có 2 lá noãn dính nhau ở gốc.
Quả hạch hình bầu dục, màu lục, chứa một hạt. Hoa mộc được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc để làm cảnh, ưa ẩm, chịu hơi nóng, thường trồng ở quanh nhà, vườn đình chùa.
Gần đây, ở thành phố, người ta trồng hoa mộc vào các chậu nhỏ để ở ban công cho tiện việc chăm sóc. Hoa mộc sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, ra hoa rải rác quanh năm, hoa nhiều song hiếm khi thấy quả. Hoa mộc là loại cây cảnh quý, hoa còn dùng để ướp trà.
Công dụng làm thuốc:
Bộ phận dùng làm thuốc là hoa, quả, rễ và vỏ cây. Hoa mộc được dùng chữa viêm họng, ho nhiều đờm, đau răng, hôi miệng. Ngày dùng 1,5-3g hãm, ngâm rượu uống hoặc sắc ngậm. Có thể dùng nước cất từ hoa, mỗi lần 20-30ml, ngậm rồi nuốt, ngày 2-3 lần. Khi bị loét trong miệng, lấy 3-5 hoa, phơi âm can, tán thành bột mịn rắc vào chỗ loét. Hoa còn còn chữa bế kinh, đau bụng, dưỡng tóc và làm thơm tóc.