Một số bài thuốc có sử dụng tân di

Cổ chướng do xơ gan:
Rễ tân di 1.000g, sắc 3 lần, mỗi lần sắc trong 2 giờ, hòa nước thuốc cả 3 lần, cô lại còn 2.000ml, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 20ml.
Vàng da do rượu (tửu đản):
Tân di 30g, hoàng kỳ 60g, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g với rượu.
Đau răng:
Tân di 30g, sà sàng tử 60g, muối tinh 15g, tất cả tán bột, mỗi lần lấy một chút bột thuốc xát vào răng đau.
Tân di 1,5g sắc uống.
Xuất huyết do chấn thương:
Tân di lượng vừa đủ, sấy khô, tán bột, trộn với một chút băng phiến rồi rắc lên vết thương.
Rắn cắn:
Rễ tân di lượng vừa đủ, tán vụn, ngâm với rượu, dùng bông thấm rượu thuốc bôi quanh vết rắn cắn.
Thống kinh bất dựng (đau bụng khi hành kinh, khó thụ thai):
Tân di 20-30 cái, tán vụn, uống vào lúc sáng sớm khi chưa điểm tâm.
Hôi nách:
Tân di, mộc hương, tế tân, xuyên khung, lượng bằng nhau, tán bột, xát vào nách.
Eczema:
Tân di, cúc hoa, hoạt thạch, bột gạo, tất cả sấy khô tán bột, mỗi lần lấy một chút bột thuốc xoa vào nơi bị bệnh.
Cần lưu ý, khi dùng tân di phải chùi sạch lông, nếu không phải cho vào túi vải buộc kín miệng mà sắc để tránh gây ho và ngứa. Cần bảo quản vị thuốc này trong bình đậy kín cho khỏi mất hương, để nơi khô ráo và tránh nóng.
Cây rẻ quạt
Rẻ quạt trong Đông y có tên thuốc là xạ can, trị đau hầu họng rất tốt. Ngoài ra, nó còn có tác dụng trừ đờm, dịu ho, chữa trị khuẩn đường hô hấp trên.
Rẻ quạt có tên khoa học Belamcanda sinensis (L.) DC, họ lay ơn. Đây là một loại cây mọc hoang sống lâu năm; thân rễ mọc bò. Lá mọc thẳng đứng, bẹ lá xếp vào nhau xòe ra như cái quạt. Lá hình mác dài 20-40cm, rộng 1,5-2cm. Hoa có cán dài 20-40cm, chia thành nhiều cành, mỗi cành mang một cụm hoa. Hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ điểm đốm tía. Quả nang hình trứng. Hạt hình cầu xanh đen bóng, đường kính 5mm.
Thân rễ được gọi là củ rẻ quạt; thu hoạch vào mùa đông, cắt bỏ rễ con, rửa sạch rồi phơi sấy khô làm thuốc.
Cao cồn xạ can có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn trực khuẩn lỵ, tụ cầu vàng, cẩu khuẩn ruột. Xạ can có tác dụng kháng viêm cấp tính và mãn tính. Flavonoid toàn phần của xạ can làm giảm hoạt độ của men polyphenol oxydase và các men có vai trò trong viêm cấp và mãn tính.
Đông y xếp xạ can vào loại thuốc thanh nhiệt giải độc. Xạ can vị đắng, tính hàn, vào các kinh phế, can, có tác dụng trị đau hầu họng, trừ đờm, dịu ho. Xạ can hơi có độc. Người có tì vị hư hàn, trẻ em dưới 7 tuổi, phụ nữ có thai không được dùng, sau đây là các bài thuốc có xạ can là chủ trị:
Trị viêm yết hầu cấp: Xạ can 10g, cát cánh 10g, hoàng cầm 10g, cam thảo bắc 6g. Làm thành bột thô, sắc nước uống.
Trị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm họng, viêm amiđan cấp và mãn tính, dùng một trong các bài sau:
Xạ can 10g, sâm đại hành 10g, sắc nước uống.
Xạ can 10g, cát cánh 10g, trần bì 6g. Làm bột thô rồi sắc nước uống.
Liều dùng cho trẻ trên 7 đến 12 tuổi bằng nửa liều người lớn cho các bài thuốc trên. Từ 13 tuổi trở lên như liều người lớn.
Trị ho hen, ho do lạnh: Xạ can 10g, bán hạ 10g, tử uyển 10g, khoản đông hoa 10g, đại táo 10g, sinh khương 10g, ma hoàng 7g, ngũ vị tử 3g, tế tân 3g. Sắc nước uống.