Hoa tuy líp

Cây hoa tuy líp còn có tên khác như cây hoa vành khăn, uất kim hương.
Cây nguyên sản ở Châu u, sau được phổ biến trồng ở các nước Châu Á như Trung Quốc. Ở Châu Âu trồng nhiều Tulip; nhất là ở Hà Lan, rất coi trọng cây hoa này và gây trồng tạo ra nhiều giống có hoa đẹp nổi tiếng trên thế giới.
Tulip là cây thảo sống nhiều năm, thân hành hình trứng tròn; lá mọc từ gốc, 3 – 4 phiến lá một; dài 2cm. Hoa đơn sinh, cán hoa dài 35 – 55 cm. mọc thẳng đứng; hoa dài 5 – 7,5 cm, tràng có 5 cánh hoa, hình trứng ngược, màu vàng tươi hoặc đỏ tía, quả nang có nhiều hạt. Mùa hoa: hạ tuần tháng 4.
Bộ phận dùng:
Thân hành, rễ làm thuốc, hoa làm cảnh.
Công dụng:
Rễ: làm thuốc trấn tĩnh, trị chứng tạng táo.
Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 2 – 4g dạng tán bột nhỏ để uống.
Dương công hoa
Tên thường gọi là dương kim hoa. Bộ phận dùng và phương pháp chế biến đó là hoa thu hái từ tháng 4 đến tháng 10, phơi khô trong nắng. Dương công hoa có tính vị cay, tính ấm và độc. Công năng trị hen.
Chỉ định và phối hợp:
Hen biểu hiện như ho không có đờm và tức ngực: Dùng dương kim hoa dưới dạng cuộn như diếu thuốc và hút.
Đau thượng vị và đau bụng đau do ứ phong thấp và đau do chấn thương ngoài: Dùng một mình dương kim hoa hoặc phối hợp với xuyên khung và phòng kỷ.
Liều dùng: 0,3 – 0,6g.
Thận trọng và chống chỉ định: dược liệu này độc không dùng nó khi bị tăng nhãn áp và thận trọng khi dùng cho các trường hợp suy yếu cơ thể và tăng huyết áp, cho phụ nữ có thai và trẻ em.
Mai quý hoa
Tên thông thường gọi là mai quý hoa. Bộ phận dùng và phương pháp chế biến đó là hoa hoặc nụ hoa được thu hái từ tháng 4 – 6, sau đó sao trước khi dùng. Mai quý hoa có tính vị ngọt, hơi đắng và ấm. Công năng điều khí hóa ứ; trừ huyết ứ.
Chỉ định và phối hợp:
Khí trệ ở can và tỳ biểu hiện đau mạn sườn, đầy chướng vùng thượng vị và đau bụng: Mai quý hoa phối hợp với phật thủ, hương thụ và uất kim.
Khí trệ ở can và huyết biểu hiện kinh nguyệt không đều, vú cương đau trước kỳ kinh: Mai quý hoa phối hợp với đương qui. Xuyên khung, bạch thược và trạch lan.
Huyết ứ và đau do ngoại thương: Mai quý hoa phối hợp với đương qui, diên hồ sách và xích thược.
Liều dùng: 3 – 6g.
Hoa lay ơn
Cây hoa lay ơn có nguồn gốc ở Đông Nam Châu Phi, được trồng và tạo giống ở Châu u, nhập vào Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.
Là loại cây thảo, sống nhiều năm, rễ ít và ngắn, dạng rễ chùm, ăn ngang, mọc từ đáy một thân củ tròn, dẹt, cứng, thân cao hoặc thấp tùy giống, dễ ngả. Lá đơn hình đao, kiếm, gươm, mọc hai hàng trên cùng mặt phẳng, lá nguyên, cụm hoa là những bông hoa gồm những hoa hình phễu nhiều màu sắc. Quả nang nhiều ô, mỗi ô có nhiều hạt. Cây chịu nóng tới 30 – 350C; chịu rét tới 10 – 150C, độ ẩm thích hợp 70 – 80%; độ cao 1 – 1,500m; ưa sáng, ưa ngày dài, ưa đất thịt nhẹ, nhiều mùn dễ thoát nước; cây không chịu mặn, úng. Phân biệt các giống hoa lay ơn theo màu sắc của hoa, hình dạng cây và tính chống chịu của cây.
Có các loại giống như:
Hoa lay ơn phấn hồng
Hoa trắng
Hoa tím
Hoa vàng
Hoa đỏ nhạt (Lay ơn san hô)
Ở Việt Nam lay ơn chủ yếu trồng làm cảnh và lấy hoa đẹp. Ở Trung Quốc có loài Gladiolus yunnanensis làm cảnh và làm thuốc.
Theo Đông y:
Tính, vị: Khổ, lương
Công dụng, chủ trị: Thanh nhiệt giải độc, tán ứ, tiêu thũng.
Cách dùng, liều lượng.
Dùng ngoài: lá, hoa liều lượng thích hợp.