Hoa thủy tiên

Trẻ em co giật: Hoa thủy tiên 10 bông, phơi khô sắc uống, có thể pha thêm một chút đường.
Áp-xe vú: Hoa thủy tiên giã nát, trộn với một chút rượu rồi đắp vào nơi bị bệnh, mỗi ngày đắp 2 lần.
Mụn nhọt, đinh độc: Hoa hoặc củ thủy tiên tươi giã nát đắp lên tổn thương; hoặc dùng củ thủy tiên, dã tường vi, lá phù dung và rễ cây chuối tiêu, giã nát rồi đắp vào nơi bị bệnh.
Côn trùng đốt: Dùng hoa hoặc lá thủy tiên tươi giã nát đắp vào chỗ bị đốt.
Lan gấm
Cây lan gấm còn gọi là kim tuyến liên, mộc sơn thạch tùng, lá gấm.
Cây lan gấm là loại địa lan thân bò rồi đứng, cao khoảng 20cm, thân tròn có nhiều nách. Lá trơn hình trứng hay hình ê líp, mặt trên màu xanh đen, mặt dưới của lá màu tím đỏ. Gân lá nhỏ màu vàng kim rất đẹp phân bổ như mạng nhện từ 5 chủ mạch gân chính nên gọi là kim tuyến liên. Mùa đông xuân cây nở hoa màu trắng, nhụy hoa có lông.
Cây lan gấm có tại các vùng rừng già Lâm Đồng: Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương, Di Linh.
Ở Việt Nam cây lan gấm chưa có tài liệu nghiên cứu và chưa dùng làm thuốc. Theo tài liệu của Đài Loan thì cây lan gấm là một loại cây nổi tiếng vô cùng quý giá có bán tại các tiệm thuốc Bắc hoặc dùng trong nhân dân. Cây lan gấm có tác dụng: tắng cường sức khỏe, làm khí huyết lưu thông. Cây thuốc có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quản, viêm gan mãn tính. Ngoài ra còn dùng chữa thần kinh suy nhược, chữa ho khan, đau họng, cao huyết áp, suy thận, chữa di tinh, đau lưng, phong thấp, làm tiêu đờm, giải độc, giải nhiệt.
Cây lan gấm dùng cả cây tươi hoặc khô sắc uống. Liều dùng trong ngày khoảng 20g tươi hoặc 5g khô. Dùng ngoài, cả cây tươi giã nát đắp chỗ vết thương sưng đau.
Giá trị y học của cây lan gấm
Tài liệu khảo cứu về cây thuốc kim tuyến liên của Đài Loan có viết về giá trị y học như sau:
Ông Tả Mộc Thuấn – học giả người Nhật – nghiên cứu về Trung y tuyên bố năm 1924: Kim tuyến liên là một trong những cây thuốc quý trong dân gian; toàn thân cây thuốc được dùng để làm tăng cường sức khỏe, chủ trị bệnh phổi, di tinh, xuất tinh sớm, yếu gan, yếu tỳ và các vết thương do rắn cắn; còn có tác dụng bổ máu, giải nhiệt.
Ông Sơn Điền Kim Trị tuyên bố năm 1932: Người dân tộc miền núi thường dùng kim tuyến liên sắc uống để trị đau ruột, đau bụng, sốt cao, đắp bên ngoài để trị các chỗ sưng vết thương và chỗ bị rắn cắn.