Hoa tầm xuân

Hoa tầm xuân thuộc họ hoa hồng, còn có tên khác là Dã tường vi, cây hoa tầm xuân mọc hoang và được trồng ở vườn hoa, bờ rào. Loài cây rậm nhỏ, cao độ 2m, cành nhiều gai, lá hình lông cánh chim. Hoa 5 cánh sắc đỏ hoặc trắng, có mùi thơm. Quả gầy.
Bộ phận dùng: Hoa, quả.
Thành phần hóa học: Quả có chất keo, nhiều sinh tố C.P. Hoa có tinh dầu thơm.
Công dụng, liều dùng: Hạt dùng chữa phong thấp, lợi tiểu, ngày dùng 2-4g.
Hoa chế lấy tinh dầu thơm.
Hoa kim ngân
Cây kim ngân mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi nước ta. Hiện nay đã được trồng để lấy hoa và cành lá làm thuốc. Ở Đà Lạt trồng rất nhiều.
Hoa mọc từng đôi ở kẽ lá, có hương thơm dịu. Hoa mới nở có màu trắng, sau ngả sang màu vàng trang nhã. Hoa kim ngân là vị thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa do dị ứng, viêm mũi do dị ứng, đau thấp…
Kim ngân là loại dây leo quanh, thân có thể vươn dài đến 10m. Toàn thân có lông mềm, lá mọc đối, đôi khi mọc vòng 3 lá một, nách lá nở hoa rất thơm, hoa mới nở trắng rồi đến tía, sau biến ra vàng, cho nên gọi là kim ngân hoa. Quả tròn sắc đen.
Bộ phận dùng: Hoa (kim ngân hoa), lá và dây (nhẫn đông dang).
Thành phần hóa học: Trong kim ngân có chất inosite, lutéolin và chất chát, saponozit.
Hoa kim ngân có tác dụng kháng sinh, được dùng chữa mụn nhọt, lên đậu, lên sởi, giải độc. Dây kim ngân chuyên chữa ung nhọt, lở ghẻ.
Ngày dùng: 4-6g hoa hoặc 10-12g cành lá dây dưới dạng thuốc sắc.
Bài 1:
Kim ngân hoa 15g, cúc hoa 15g, sơn trà 30g, tang diệp (lá dâu) 10g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà mỗi ngày 1 thang, uống liên tục 20 ngày là một liệu trình.
Công dụng: Sơ phong tán nhiệt, bình cam tiềm dương, hạ mỡ máu và hạ huyết áp. Thích hợp cho những trường hợp cao huyết có kèm theo rối loạn lipid máu. Trong bài, ba vị cúc hoa, sơn trà và tang diệp đều có tác dụng hạ huyết áp. Ngoài ra, sơn trà và cúc hoa còn có khả năng hạ mỡ máu và tăng cường lượng máu nuôi dưỡng cơ tim.
Những thứ thuốc là hoa rất nhiều. Nhưng với người Việt Nam ta, kim ngân có lẽ là thứ quen thuộc nhất. Trong gánh thuốc Nam của các bà hàng lá chẳng bao giờ thiếu vị kim ngân. Mùa đông, trong khi nhiều loại cây đã trụi hết lá, kim ngân vẫn xanh mướt vì vậy còn có tên là nhẫn đông đằng, nghĩa là thứ dây leo chịu được rét mùa đông. Xuân đến, từ các kẽ lá bắt đầu mọc ra từng cặp hoa màu trắng, hai ba ngày sau thì chuyển màu vàng; cùng lúc trên cây có hoa vừa mới nở sáng trắng như bạc, và cả những hoa nở được vài hôm vàng rực, cho nên mới có tên là kim ngân hoa. Hoa kim ngân có mùi thơm thoang thoảng, rất dễ chịu và mang lại cảm giác bình an.
Theo đông y kim ngân hoa được xếp hàng đầu trong loại thuốc thanh nhiệt giải độc, thường dùng để chữa các chứng bệnh cảm sốt, nhiễm độc và bệnh ngoài da. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài tác dụng diệt khuẩn, chống viêm, kim ngân hoa còn có tác dụng hạ cholesterol và đường huyết, nên còn có thể sử dụng để chữa cao huyết áp và đái tháo đường…