Hoa sen

Hoa sen có nguồn gốc Châu Á lục địa, hoa sen là vật linh thiêng tượng trưng cho ́n Độ giáo và phật giáo. Sen được trồng từ lâu đời ở Việt Nam để ăn, làm mứt, làm thuốc, làm cây cảnh. Có hai giống sen được trồng phổ biến:
Sen hồng, cao, khỏe, hoa màu hồng, thơm.
Sen trắng, cây cao, hoa trắng, yếu hơn. Cây thấp hoa bé, thường trồng trong bể, trong chậu. Sen được trồng bằng mầm, ngó sen. Trồng vào giữa mùa xuân, thời tiết ấm; trồng xong cho nước vào ao, hồ từ từ cho ngập đến 2/3 thân cây, giữ mực nước như vậy khoảng 3 – 4 tháng. Mùa hè năm sau cây ra hoa, mùa đông cây tàn, màu xuân lại mọc.
Sen mọc ở ao, đầm. Thân rễ hình trụ, mọc trong bùn. Lá mọc lên khỏi mặt nước, cuống lá dài, có gai nhỏ. Phiến lá hình lọng, to, đường kính 40 – 70cm, có gân tỏa tròn. Hoa to, màu đỏ hồng hay trắng, đều, lưỡng tính; 3 – 5 lá dài màu xanh lục, tràng gồm nhiều cánh hoa, nhiều nhị, bao phấn 2 ô, mở kẽ nứt dọc, trúng đới mọc dài ra thành một phần phụ màu trắng, nhiều tâm bì rời nhau, đựng trong một đế hoa loe ra hình nón ngược. Mỗi tâm bì có 1 – 2 noãn. Quả bế (thường gọi là hạt sen), dựng một hạt không có nội nhũ, có 2 lá mầm dày; chồi mầm gồm 4 lá non gấp vào phía trong.
Bộ phận dùng
Sen có nhiều bộ phận được dùng làm thuốc:
Quả sen (thường gọi là hạt): Còn nguyên vỏ quả gọi là liên thạch; bóc vỏ ngoài và bỏ mầm xanh ở lõi gọi là liên tử nhục hay liên nhục. Ngoài ra chồi mầm xanh trong hạt sen gọi là tâm sen hay liên tử tâm. Ngó sen là phần thân rễ hình trụ mọc trong bùn gọi là liên ngẫu. Lá sen gọi là hạ diệp. Gương sen là bát sen, sau khi lấy hết quả rồi phơi khô gọi là liên phòng. Tua nhị sau khi sấy khô hoặc phơi khô gọi là liên tu.
Liên nhục (hạt sen)
Hạt sen là vị thuốc quý, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài. Đồng thời tăng cường chức năng tì vị, bảo đảm dinh dưỡng, điều hòa sự thu nạp thức ăn. Ngoài ra, trong hạt sen có chứa sắt, canxi, tinh bột và đặc biệt là phốt-pho, chúng thường được dùng để chữa kết lỵ, cấm khẩu, tim đập nhanh, tiểu đục và bệnh phụ nữ.
Tính vị cam sáp, bình vào các kinh kỳ, thận, tâm. Bổ tỳ, chỉ tả, ích thân, sáp tinh, dưỡng tâm, an thần.
Dùng liều trị: Tỳ hư, tiêu chảy lâu ngày, di tinh, đới hạ, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, kém ăn, cơ thể suy nhược. Ngày dùng 6-15g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Kiêng kỵ: Thực nhiệt táo bón không nên dùng.
Tâm sen (tim sen)
Tim sen vị đắng tính hàn, trị sốt cao mê sảng, huyết áp cao. Tim sen pha uống như trà chữa bệnh mất ngủ, an thần. Hoặc bạn hãy áp dụng cách làm sau: Lấy khoảng 1/2 kg hạt sen khô, giã vỡ, rồi rang lên với một chút muối, chú ý giã rang nhỏ lửa sao cho hạt sen hơi vàng là được. Sau đó bạn cho vào lọ đậy kín, mỗi ngày ăn một vốc nhỏ trước khi đi ngủ, áp dụng đều đặn bạn sẽ cải thiện giấc ngủ của mình rất tốt.
Khổ, hàn; vào các kinh tâm, thận. Thanh tâm, an thần, thông giao tâm, thận, sáp tinh, chỉ huyết, trừ nhiệt.
Dùng điều trị: Nhiệt nhập tâm bào, tinh thần hôn ám, nói sảng, tinh thần bất giao mất ngủ, huyết nhiệt, thổ huyết. Ngày dùng 2-5g, dạng thuốc sắc, hãm hoặc hoàn tán.
Kiêng kỵ: Người tâm hỏa như nhược, không nên dùng.
Ngó sen (Liên ngẫu)
Ngó sen cũng có khả năng tương tự, giúp sản sinh ra các chất đề kháng hay nói cách khác là tạo sức sống cho các tế bào. Sử dụng ngó sen làm nước uống sẽ giải độc tố giúp làn da đẹp hơn, các vết nám, tàn nhang và sẹo mờ dần.
Làm thuốc cầm máu, chữa đại tiểu tiện ra máu, chảy máu cam, tử cung xuất huyết. Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc.
Lá sen:
Lá sen có vị đắng, tính ôn, có tác dụng thăng dương, chỉ huyết. Nó dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Dịch chiết từ lá sen có thể điều trị hội chứng rối loạn lipid máu. Lá sen tươi hay phơi khô thái thật nhuyễn, có thể dùng để nấu cháo nhừ với đường cát trắng. Món ăn này có tác dụng thanh nhiệt, hạ huyết áp và giảm cholesterol. Đây là món ăn bổ rất thích hợp trong thời tiết nắng nóng.
Chủ trị: Thử nhiệt, bứt rứt, khát nước, thử thấp tiêu chảy, tỳ hư tiêu chảy, huyết nhiệt, nôn ra máu, đổ máu cam; đại tiểu tiện ra máu, băng huyết, rong huyết.
Ngày dùng 3-9g dược liệu lá khô; 15-30g dược liệu lá tươi,
Than lá sen: Thu sáp hóa ứ, chỉ huyết. Dùng điều trị nhiều loại chứng xuất huyết, huyễn vâng (chóng mặt) sau khi sinh đẻ.
Ngày dùng: 3-6g (dược liệu khô), dạng thuốc sắc hay hoàn tán.
Gương sen (Liên phòng):
Gương sen là nơi chứa hạt sen. Theo tài liệu cổ, gương sen có vị đắng chát, tính ôn. Nó có tác dụng tiêu ứ, cầm máu, chữa huyết ứ, bụng đau, sinh xong nhau chưa ra, băng huyết sau khi sinh, tiểu tiện khó hoặc ra máu. Người ta thường dùng gương sen già lấy hết hạt, phơi khô, sắc nước uống để chữa các bệnh trên.
Tất cả các bộ phận của sen đều được sử dụng để làm đẹp. Chẳng hạn, sen có khá nhiều cánh, chúng được dùng ngâm bồn (spa trị liệu) để tăng thêm nguyên khí, giúp tinh thần sảng khoái. Ngoài ra, tinh dầu của sen còn dùng dưỡng da, để loại bỏ đi các tế bào chết và massage giúp lưu thông khí huyết.
Từ thời xa xưa, người ́n Độ đã sử dụng sen trong điều trị bệnh, tăng cường sinh lực. Hương sen nhẹ nhàng và thanh khiết, vì thế đây cũng là quốc gia duy nhất sản xuất nước hoa có hương hoa sen.
Bên cạnh đó tư thế hoa sen (thiền) là một trong những bài tập phổ biến của yoga. Tư thế này rất hữu ích đối với các nội tạng bụng, cơ quan sinh dục và thận. Đồng thời phương pháp tập luyện này giúp trút bỏ mọi phiền muộn, tinh thần sảng khoái và điều hòa cơ thể.
Một trong những bài thuốc chữa bệnh kiết lỵ hữu hiệu của sen là dùng núm cuống lá sen giã vắt lấy nước, đun sôi để nguội và uống.
Tâm sen tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền muộn…