Hoa ngọc lan

Ngoài ra còn có tên khác như bạch ngọc lan, ngọc đường xuân. Cây có nguồn gốc Châu Á (Trung Quốc) mọc ở trên núi.
Tác dụng:
Chống quá mẫn, chống quá viêm.
Tác dụng hạ huyết áp.
Tác dụng hưng phấn tử cung.
Chống ngưng máu, vón huyết tiểu cầu.
Kháng virut (vi sinh vật)…
Tân di hoa (còn gọi là ngọc lan hoa) 3-6g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày, mỗi ngày dùng 2 ấm.
Công dụng: Ích phế tiêu đàm, khứ phong thông khiếu, giáng áp, dùng cho người bị cao huyết áp, viêm mũi, đau đầu do co thắt mạch máu. Nghiên cứu hiện đại trên thực nghiệm và lâm sàng cho thấy, tân di hoa có tác dụng hạ huyết áp tương đối rõ rệt.
Tiểu dắt: Rễ ngọc lan hoa trắng 15g, râu ngô 20g, rau diếp cá 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống trong 5-7 ngày.
Hoa kim trâm
Loại hoa này không chỉ trang điểm cho các phòng khách sang trọng mà còn là vị thuốc quý chữa bệnh đường tiết niệu, chảy máu cam, động thai… Hoa kim trâm cũng là thứ rau cao cấp, rất giàu vitamin.
Trong y dược học hiện đại, kim trâm là nguồn nguyên liệu tốt để bào chế tân dược. Loại hoa này chứa nhiều chất có lợi cho sức khỏe như protein, chất béo, nitơ tự do, đường khử, tinh bột… Nó là nguồn vitamin A, thiamin và vitamin C dồi dào.
Sách Đại Nam nhất thống chí viết: Cây kim trâm dài chừng một thước, hình như cái trâm vàng nên gọi như thế. Nó còn có tên là hoa hiên, huyên thảo, rau huyên, hoàng hoa, kim trâm thái… Giống cây này ưa khí hậu nhiệt đới núi cao, quanh năm ẩm mát. Ở Việt Nam, kim trâm mọc hoang dã tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.
Từ lâu, kim trâm đã được sử dụng như một vị thuốc dân gian có nhiều công hiệu. Lá và hoa làm thuốc chữa đổ máu cam, an thai, lợi tiểu, trừ thấp nhiệt, làm yên ngũ tạng, khỏi bốc nóng, giúp ăn ngon ngủ yên, sáng mắt… Rễ cây vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, lương huyết, chỉ huyết, được dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm đau, chữa sốt, lỵ ra máu, đại tiện ra máu, sỏi tiết niệu. Rễ cây cũng có tác dụng chữa ho ra máu, viêm gan, vàng da, viêm tuyến mang tai, viêm tai giữa, đau răng. Lá và rễ giã đắp có thể trị sưng vú.
Nước sắc hoa kim trâm có thể làm tăng tiểu cầu, hồng cầu nhưng không ảnh hưởng đến số lượng và công thức bạch cầu nên có tác dụng bổ máu. Hơn thế nữa, thứ nước sắc này có tác dụng đối kháng với dicoumarin (chất kéo dài thời gian đông máu), làm giảm rõ rệt thời gian đông máu, tránh mất máu nhiều cho người bệnh.
Tuy nhiên, không nên lạm dụng kim trâm, vì với liều quá cao, nó có thể gây ngộ độc với biểu hiện: không kiềm được tiểu tiện, giãn đồng tử, ức chế hô hấp.. Các bài thuốc dân gian thường chỉ dùng vị thuốc này với liều lượng xấp xỉ 30g/ngày.
Ngoài tác dụng làm thuốc, kim trâm cũng là một món ăn ngon dành cho dân sành điệu. Cách chế biến thông dụng nhất là nấu canh. Gần đây, các đầu bếp đã nghĩ ra các món như xào thập cẩm, băm lẫn với thịt nạc hay hấp cách thủy cùng tim, cật lợn. Dù làm cách nào, kim trâm vẫn giữ được vị ngon, ngọt rất đặc trưng của mình.