Hoa bướm

Cây hoa bướm còn có tên khác như pan xê, tam sắc cẩn (cây hoa tím nhạt), hồ điệp hoa.
Cây có nguồn gốc Châu u, sau được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Hoa cánh mỏng, nhiều màu sắc, trông như hình bướm đậu. Cây được nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX; trồng ở vườn hoa công viên làm cảnh. Ở một sô nước, cây còn dùng làn thuốc.
Loại cây thảo, hai năm, nhỏ, thân có góc cạnh; lá thuôn dài. Hoa to, lưỡng tính, đường kính 3-5cm, màu sắc tươi đẹp; mỗi đóa hoa có 3 màu: lam, trắng, vàng; mùi thơm nhẹ; đài hoa 5 răng, tràng 5 cánh (đôi khi tràng 3 màu lại điểm thêm điểm tím trên màu vàng). Bốn cánh hoa mọc đứng, còn cánh hoa thứ 5 mọc ngả về phía dưới và có cựa, bầu thượng, 1 ô, quả nang, 3 van, hình 3 cạnh. Mùa hoa, từ mùa xuân đến mùa thu.
Tác dụng:
Lợi tiểu, nhuận tràng, khử lọc.
Công dụng:
Thu hái cây hoa bướm lúc cây đang ra hoa, phơi trong râm hoặc sấy nhanh, nhẹ độ vì dễ bị giảm chất lượng. Hoa bướm là thuốc lợi tiểu và khử lọc. Khi vò hoa bướm ta thấy có mùi vị methyl salicylat, vì vậy hoa còn dùng để chữa eczema, bệnh nấm, bệnh vẩy nến, chốc đầu, trứng cá của thiếu niên, bệnh ngứa (prurit) của người cao tuổi; mụn; chữa phù thũng, tích dịch, bệnh thấp khớp, đặc biệt là thấp khớp kèm theo sốt.
Cách dùng, liều lượng:
Dùng chữa mụn, rộp da, phù thũng:
Ngày dùng 40-60g cây khô, thêm 1 lít nước, ngâm lâu ít nhất 1 giờ. Sau đó đun nhẹ từ từ cho sôi lên trong 10-20 giây; hãm lâu 10 phút; uống 3-4 chén một ngày, giữa các bữa ăn hoặc 1/2 giờ trước bữa ăn.
Chữa thấp khớp:
Ngày uống dần 1 lít thuốc sắc; cách xa bữa ăn. Ngoài ra, vừa uống vừa dùng gạc thấm nước sắc này đắp chỗ đau (dùng ngoài). Chữa bệnh ngoài da cho trẻ em.
Cách dùng: Dạng thuốc hãm hoa bướm (1g phấn hoa khô, trong 100 phấn nước sôi), (11g hoa tươi bằng 1g hoa khô).
Toàn cây có tác dụng trị chứng viêm đường hô hấp
Công dụng, chủ trị: Ngừng ho, trị lao hạch ở trẻ em
Cách dùng, liều lượng: Uống ngày dùng 4-12g nước sắc
Dùng ngoài: Vắt lấy nước trấp, bôi đắp vết đau.
Hoa mười giờ
Cây có nguồn gốc Brazin (Ba Tây), Nam Mỹ; chi Portulaca có 50 loài. Ở Việt Nam thường gặp một số loài như rau sam, cây hoa mười giờ. Cây hoa mười giờ còn có tên Hán Việt là ngọ thời hoa, cũng có nghĩa là có hoa nở vào khoảng giờ ngọ (buổi trưa). Cây hoa mười giờ được trồng làm cảnh, hoa đơn hay kép màu tím, đỏ hoặc vàng, mọc ở ngọn cành, thường nở vào lúc 10 giờ sáng và tàn rạng ngày. Là cây hoa mùa hè, dễ trồng, thân bò lan trên mặt đất; thường trồng ở các vườn hoa; rìa luống.