Cúc bất tử

Cúc bất tử nguồn gốc Châu Âu và Trung Á; thường mọc hoang hoặc được trồng ở đất cát.
Hoa cúc bất tử màu vàng, được thu hái trước khi hoa nở hoàn toàn. Cụm hoa hình đầu, gần hình cầu: đường kính 4-5mm. hoa được xếp lớp lên nhau, các hoa ở giữa hình ống màu vàng, các hoa cái xếp vòng quanh ở chi vi. Bầu hình bầu dục; 1 ô; có phủ lông. Hoa có mùi thơm, vị đắng.
Đặc điểm của hoa cúc bất tử là khi khô vẫn giữ nguyên được hình thái, bao chung và hoa màu vàng; tồn tại vững bền với thời gian dài.
Cụm hoa:
Thành phần hóa học: Hoa có tinh dầu và chất đắng.
Công dụng:
Trước đây hoa được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa thống phong (bệnh gút); vàng da; bệnh ngoài da; trị giun, trị nhậy, nấm tóc.
Chú thích:
Nên phân biệt hoa cúc bất tử với hoa cúc vạn thọ.
Cúc gai hoa tím
Cây nguồn ở Châu u, Địa Trung Hải, mọc nhiều ở Châu u, Bắc Phi. Cây được di thực trồng ở Việt Nam vào năm 1970.
Cây thảo, sống hàng năm, thân khỏe; lá bóng láng, có vân trắng dọc theo vân lá; mép lá có răng, gai nhọn.
Cụm hoa hình đầu ở ngọn, hoa màu tím, hình ống; bao chung với lá bắc, có gai. Quả bế, đen, có mào lông.
Công dụng: Điều trị viêm gan mạn tính, viêm gan nhiễm khuẩn, cổ trướng, suy gan.
Chỉ định: Viêm gan cấp và mạn tính; xơ gan ở giai đoạn bù trừ chức năng suy gan; gan nhiễm mỡ; bảo vệ nhu mô gan khi dùng các thuốc có độc tính đối với gan.
Cách dùng, liều lượng:
Dạng cao dược liệu
Dạng hoạt chất: Silymarin viên bọc đường 35-70mg, si rô 140mg hoặc dung dịch uống 50mg trong 5ml. hỗn hợp chiết xuất flavonoid gồm phức hợp silybinin, silycristin, silydiamin (3:1:1) có tác dụng bảo vệ gan (ổn định màng tế bào gan, duy trì các chức năng nhu mô gan, hướng mở, và kích thích quá trình tái tạo nhu mô gan).
Liều dùng, theo hướng dẫn của thầy thuốc và nhà sản xuất từng loại biệt dược.
Lưu ý: Người suy nhược có thể bị ỉa chảy hoặc ảnh hưởng đến dạ dày khi dùng biệt dược này.
Trúc đào
Cây trúc đào còn gọi là đào lê, giáp trúc đào. Thuộc họ Trúc đào Apocynaceae, vì lá cây giống lá trúc, hoa giống hoa đào, do đó có tên trúc đào.
Trúc đào là một cây nhỡ, có thể cao tới 4-5m, mọc riêng lẻ hay có khi trồng thành bụi. Cành mềm dẻo. Lá mọc đối hay mọc thành vòng từng 3 lá một, thuộc loại lá đơn, mép nguyên, cuống ngắn, phiến lá hình mác, dài 7-20cm, rộng từ 1-4cm, dai cứng, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân đều, song song ngang hai bên gân chính. Hoa màu hồng hay màu trắng, mọc thành xim gù ở đầu cành. Quả gồm hai đại, gầy, trong chứa rất nhiều hạt có nhiều lông.
Độc tính của lá trúc đào đã được biết từ lâu. Tại Châu u, người ta kể những trường hợp lính vùng đảo Corse (một đảo thuộc miền Nam nước Pháp) đã bị ngộ độc và tử vong do ăn thịt xiên vào cây trúc đào để nướng. Có những người đã bị ngộ độc nặng do uống nước đựng trong chai nút bằng cây trúc đào, hay do uống nước suối rễ cây trúc đào mọc ở gần.
Tại Á Đông, trúc đào được ghi trong cuốn y học nhập môn của Lý Duyên như sau: Chữa những người tự nhiên mặt đỏ bừng (bạo xích), có nước tích tụ trong ngũ tạng làm bụng to, lợi tiểu tiện.
Trong y học, trúc đào được dùng đầu tiên vào khoảng năm 1866 sau khi được nhà dược lý học người Nga E. B. Pelikan nghiên cứu, nhưng sau đó bị lãng quên. Đến năm 1936, Viện nghiên cứu cây thuốc và tinh dầu ở Liên Xô (cũ) đã nghiên cứu lại và hoạt chất của trúc đào là chất neriolin được ghi làm vị thuốc chính thức trong Dược điển Liên Xô in lần thứ 9 (1961).
Theo kết quả nghiên cứu về dược lý của các nhà dược học thì neriolin có tác dụng rất mạnh, có thể thay được digitalin và strophantin để chữa các bệnh về tim. So với digitalin, neriolon (oleandrin) có những ưu điểm sau đây:
Hấp thụ nhanh khi qua bộ máy tiêu hóa nên không bị các men và acid của bộ máy tiêu hóa phân hủy.
Tích lũy rất ít.
Lợi tiểu.
Ở nước ta, vào năm 1962, các bác sĩ Vũ Đình Hải và Dương Hoàng Trọng đã dùng chất neriolin do Bộ môn Dược liệu Trường Đại học Y dược Hà Nội sản xuất để điều trị 77 bệnh nhân suy tim ở bệnh viện Việt Tiệp, đã đi tới một số kết luận sau đây:
Tác dụng trợ tim của neriolin rõ rệt nhất đối với triệu chứng khó thở. Đánh giá triệu chứng chủ quan ở chỗ nó đo được khả năng lao động vì khi bệnh nhân đỡ khó thở, họ có thể làm việc và sinh hoạt bình thường.
Tác dụng trợ tim đến rất nhanh, thường chỉ 2-3 giờ sau khi uống là dễ thở ngay. Neriolin là một thuốc trợ tim có hiệu quả nhanh chóng, không tích lũy, dễ sử dụng và đối với bệnh van tim thì có thể so sánh với các loại thuốc trợ tim cổ điển. Điều trị phải liên tục và đủ liều, nghĩa là vào khoảng 0,4 – 1,2mg mỗi ngày.
Neriolin đặc biệt thích hợp với điều trị duy trì lâu dài và ngoại trú ở các phòng khám tim cho các bệnh nhân bị di chứng của thấp khớp cấp mất bù, là loại bệnh tim rất phổ biến nhất ở Việt Nam.
Công dụng và liều dùng:
Hiện nay người ta chỉ dùng lá cây trúc đào để làm nguyên liệu chế neriolon làm thuốc chữa tim. Neriolin dùng dưới hình thức dung dịch rượu và thuốc viên.
Theo kinh nghiệm điều trị ở Bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng, ngày dùng khoảng 0,4 – 1,2mg. có thể dùng liên tục vì thuốc thải trừ nhanh chóng, có bệnh nhân dùng hàng năm mà không có triệu chứng ngộ độc.
Bản thân chất neriolin phải bảo quản theo chế độ thuốc độc bảng A, nhưng dung dịch và viên neriolin thì theo chế độ thuốc độc bảng B.