Công dụng của hoa lăng tiêu

Viêm dạ dày ruột cấp tính: Rễ lăng tiêu 30g, gừng tươi 3 lát, sắc uống hàng ngày.
Lỵ cấp tính, viêm gan vàng da: : Rễ và lá lăng tiêu mỗi thứ 15g, sắc uống.
Đại tiện ra máu tươi: Hoa lăng tiêu ngâm rượu uống.
Đau bụng nơi cục do co thắt dạ dày, ruột: Hoa lăng tiêu 60g, đương quy 30g, nghệ đen 30g. Tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g.
Chảy máu cam: Hoa lăng tiêu rửa thật sạch, nghiền nát, vắt lấy nước cốt, nhỏ mũi.
Trứng cá đỏ: Hoa lăng tiêu, mật đà tăng lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, bôi vào nơi tổn thương hoặc dùng hoa lăng tiêu 9g, chi tử 9g tán bột uống hàng ngày.
Kinh nguyệt không đều: Hoa lăng tiêu 9g, hoa hồng 9g, ích mẫu thảo 15g, đan sâm 15g, hồng hoa 6g, sắc uống.
Khí hư: Rễ lăng tiêu tươi 30g, đại kế tươi 15g, trứng gà 1 quả, sắc kỹ, uống nước ăn trứng.
Rong kinh: Hoa lăng tiêu khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 3-6g với nước ấm hoặc rượu nhạt.
Viêm loét âm đạo: Hoa lăng tiêu lượng vừa đủ, sắc lấy nước ngâm rửa.
Trẻ em đi lỏng: Rễ hoặc lá lăng tiêu tươi 9-15g, vỏ gừng 1,5g, sắc uống.
Nấm da: Hoa lăng tiêu tươi 60g, rễ tươi 30g, lá tươi 15g. Tất cả giã nát đắp lên tổn thương.
Bỏng: Rễ lăng tiêu lượng vừa đủ, mài với nước thành dạng hồ rồi đắp vào tổn thương, mỗi ngày 3-4 lần.
Hoa tam thất
Hoa tam thất 3g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 2 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng:
Thanh nhiệt, bình can, giáng áp, dùng thích hợp cho người bị cao huyết áp có kèm hoa mắt, chóng mặt, ù tai. Có thể phối hợp thêm với hoa hòe 10g và hoa cúc 10g. gần đây, loại hoa này đã được nhập nhiều từ Trung Quốc vào nước ta nên rất dễ kiếm và tiện sử dụng.
Hoa mẫu đơn
Hoa mẫu đơn có tên khác là lạch dương hoa, vân nam mẫu đơn, hoa vương. Họ hoàng liên có nguồn gốc Trung Quốc, được trồng nhiều vùng ở Trung Quốc, đặc biệt phân bố ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Cam Túc, Thiểm Tây, An Huy, Sơn Đông, Vân Nam… ở Châu u cũng nhập trồng làm cảnh. Ở Việt Nam, trước kia, cây cảnh này được nhập từ Trung Quốc để thưởng thức dịp Tết âm lịch; vỏ rễ dùng làm thuốc… (Mẫu đơn bì). Từ năm 1960, đã thí nghiệm di thực, giữ giống thành công ở Sa Pa (Lào Cai).
Mẫu đơn là cây sống nhiều năm, cao tới 1,5m. Rễ phát triển thành củ, lá mọc so le, kép hai lẩn hình lông chim, mặt trên xanh lục, mặt dưới hơi trắng, có lông.