Công dụng của hoa lan gấm

Trong sách Thanh thảo gia đình trị liệu pháp của ông Trần Đào Thích có viết: Trẻ em hay khóc dùng kim tuyến liên sắc uống sẽ khỏi.
Trong sách Khoa học quốc dược quyển 1 kỳ 2 (năm 1958) của ông Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào đăng tải trong tạp chí Đài Loan dân gian dược dụng thực vật có nói đến kim tuyến liên là một trong những dược thảo quý giá, giúp bổ máu, dưỡng âm, chữa trị nóng phổi và nóng gan.
Trong báo cáo điều tra năm 1964, ông Cam Vĩ Tùng đã phát biểu: Kim tuyến liên là một vị thuốc hết sức quý giá trong các tiệm thuốc bắc Đài Loan, là cây thuốc mang tính mát và có vị ngọt, thanh nhiệt, thanh huyết, bổ phổi, giải trừ u uất, thông trung khí, bồi dưỡng sức khỏe, chủ trị lục phủ ngũ tạng đẩy lùi tâm hỏa, nóng gan, bệnh phổi, thổ huyết, ho hen, đau ngực, đau lá lách, đau cuống họng, cao huyết áp, trẻ con chậm lớn, suy thận.
Trung y sư Lâm Minh Quyền đề cập đến dược tính của Kim tuyến liên giống như cây Nhất điểm hoàng: hạ sốt, giải nhiệt, giải trừ u uất phiền muộn, trị ho khan, đau ngực, đau họng, sắc uống với nước đường.
Trong đơn thuốc trị đau lá lách của trung y Trịnh Mộc Vinh có nói dùng Kim tuyến liên, Chỉ tử, rễ Đạm trúc diệp mỗi loại 20 phân sắc uống sẽ khỏi.
Đơn thuốc của ông Khưu Tải Phúc dùng Kim tuyến liên 20 phân sắc uống bằng nước đường làm mát máu nhuận phổi, trị bệnh phổi.
Đơn thuốc của ông Diệp Hải Ba dùng Kim tuyến liên 20 phân sắc uống bằng nước đường làm mát máu trị bệnh cao huyết áp.
Đơn thuốc của 3 ông Vương Chánh Hùng, Hà Thiên Tống, Trần Bỉnh Diêu dùng Kim tuyến liên 20 phân hầm với thịt nạc trị thổ huyết, bệnh phổi.
Trung y sư Thái Cát Hùng, Chủ tịch hội đồng quản trị của Hội nghiên cứu cây thuốc thực vật thành phố Gia Nghĩa tuyên bố: Kim tuyến liên tiêu đờm, giải độc, chỉ huyết, hạ huyết áp, trợ tim, lợi tiểu, trị bệnh đái đường, chữa viêm gan, trị mụn dùng cây tươi sắc uống.
Hoa bụp giấm
Bụp giấm thuộc họ Bông, tên khác là cây giấm, bông bụt giấm, đay Nhật, là một cây bụi, cao 1-2m. Thân màu lục hoặc đỏ tía, phân cành ở gốc. Cành nhẵn hoặc hơi có lông. Lá mọc so le. Hoa to, mọc riêng lẻ ở kẽ lá, màu vàng, ở giữa màu đỏ tía thẫm. Quả nang, hình trứng, nhọn đầu, có lông mịn, mang đài tồn tại; hạt nhiều, màu đen.
Cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và thử nghiệm phủ đất trồng đồi trọc cho kết quả tốt ở Hà Tây, Hòa Bình, rất thích hợp với đất đai cằn cỗi, ít mưa nhiều nắng.